Chấp Nhận Bị Phản Bội

Bị phản bội, ghét bỏ và bắt bớ

Đức Chúa Giê-su tiếp tục phán cùng các môn đồ rằng họ sẽ bị phản bội. “Anh sẽ nộp em cho bị giết, cha sẽ nộp con cho bị giết, con cái sẽ dấy lên nghịch cùng cha mẹ mà làm cho người phải chết đi.”4 Đây không phải là những lời đầy khích lệ trước khi các môn đồ lên đường. Có thể họ sẽ gặp chống đối từ gia đình, còn bạn bè thì trở thành kẻ thù.

Tôi không quên lời chứng của Sahil. Anh và vợ đều lớn lên trong gia đình Hồi Giáo tại Ấn Độ. Vợ anh tin Chúa và giới thiệu anh đến với Đấng Christ. Nhưng ngay khi gia đình biết tin thì đôi vợ chồng phải bỏ trốn để bảo tồn mạng sống.

Những năm sau, họ lớn lên trong Chúa và khao khát được nhìn thấy gia đình nhận biết Chúa. Dần dần họ bắt đầu nối lại liên lạc với những người thân mà họ yêu mến. Và dần dần, các thành viên trong gia đình bắt đầu đáp ứng. Cuối cùng, gia đình đã chào đón Sahil và vợ của anh quay trở lại cộng đồng và mọi mặt bề ngoài đều có vẻ thuận lợi.

Một hôm Sahil chở vợ về nhà ngoại để dùng bữa còn anh thì về nhà nội. Vợ của anh ngồi chung bàn với gia đình và bắt đầu ăn uống. Chỉ trong phút chốc, vợ anh ngã chết. Chính cha mẹ cô là người đầu độc.

Bạn sẽ bị phản bội.

Bạn sẽ bị phản bội, bạn sẽ bị thù ghét. “Các ngươi lại sẽ bị thiên hạ ghen ghét vì danh ta.”5 Từ “thiên hạ” hiển nhiên không có nghĩa tất cả mọi người trên trái đất đều sẽ ghét bạn. Tuy nhiên hình ảnh này thật rõ ràng. Bạn sẽ bị ghét bỏ, đó có thể là gia đình, chính phủ, tổ chức tôn giáo hoặc bất kỳ ai khác.

Một lần nữa, chúng ta không đồng ý với quan điểm trên. Chúng ta nói rằng: “Nếu chúng ta trở nên giống Đức Chúa Giê-su thì thế giới phải yêu thương chúng ta.” Sự thật là nếu chúng ta thật sự trở nên giống Chúa thì thế giới sẽ thù ghét chúng ta. Tại sao? Bởi vì thế giới ghét Ngài.

Đức Chúa Giê-su tiếp tục phán: “Khi nào người ta bắt bớ các ngươi trong thành nầy, thì hãy trốn qua thành kia.”6 Đức Chúa Giê-su không dùng từ nếu người ta bắt bớ các ngươi nhưng Ngài dùng từ khi nào người ta bắt bớ các ngươi. Để chúng ta không suy nghĩ rằng những lời trên chỉ dành cho các môn đồ của Đức Chúa Giê-su, về sau Phao-lô đã viết rằng: “Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Giê-su Christ, thì sẽ bị bắt bớ.”7

Chúng ta biết chúng ta sẽ bị phản bội, bị thù ghét và bị bắt bớ bởi vì chính Đức Chúa Giê-su đã chịu những điều ấy. Chúng ta càng trở nên giống Chúa thì chúng ta càng sẽ trải qua những điều Chúa đã trải qua trong thế gian này. Chính vì thế Đức Chúa Giê-su phán rằng: “Môn đồ không hơn thầy, tôi tớ không hơn chủ… Nếu người ta đã gọi chủ nhà là Bê-ên-xê-bun, phương chi là người nhà!”8

Đây là kết luận không thể tránh được của Ma-thi-ơ 10. Những ai muốn có một cuộc sống bình an, thoải mái, không bị quấy rầy, không đối diện với hiểm nguy thì đừng đi theo Đức Chúa Giê-su. Cuộc sống của chúng ta sẽ càng đối diện với hiểm nguy khi chúng ta càng khắng khít trong mối liên hệ với Đấng Christ.

Có lẽ đây là lý do chúng ta chọn yên vị với một mối liên hệ hững hờ với Đấng Christ và những thói quen sinh hoạt tôn giáo thông thường trong nhà thờ. Tại đó bạn được an yên, và thế giới muốn bạn cứ ở đó. Thế gian yêu thích chúng ta khi chúng ta theo đuổi những điều thế gian theo đuổi, thậm chí nếu điều đó được dán nhãn Cơ Đốc. Chỉ cần đạo Cơ Đốc trông giống như giấc mơ Mỹ thì chúng ta sẽ ít gặp phải những vấn đề trong thế giới này.

Nhưng nếu chúng ta trở nên giống Đấng Christ, chúng ta sẽ đánh mất nhiều điều trong thế giới này. Đức Chúa Giê-su phán rằng: “Hễ môn đồ được trọn vẹn thì sẽ bằng thầy mình.”[1] Những lời này phải khiến chúng ta sợ hãi. Chúng ta nên cảm thấy sợ hãi bởi vì Thầy của chúng ta đã bị người khác chế nhạo, đánh đập, đánh bằng roi, nhổ vào người và bị đóng đinh trên thập tự giá. Chúng ta có thật sự muốn trở nên giống Chúa?

Phao-lô đã viết cho hội thánh rằng: “Ngài nhân Đấng Christ, ban ơn cho anh em, không những tin Đấng Christ mà thôi, lại phải chịu khổ vì Ngài nữa.”[2] Điều này thật đáng kinh ngạc. Cơ bản Phao-lô muốn nói rằng: “Đấng Christ đã ban cho anh em ơn chịu khổ. Hãy đến với Đấng Christ và đón nhận ơn lớn – sự chịu khổ.” Đây không phải là lời mời người khác tiếp nhận Chúa điển hình mà chúng ta thường nghe. Hãy nhắm mắt, cúi đầu, cầu nguyện tiếp nhận Chúa, và anh em sẽ chịu đau khổ. Điều này nghe có vẻ như Phao-lô đang nói đùa.

Nhưng đây không phải là lời nói đùa.

Đây mới chính là  Cơ Đốc giáo.

Đây mới chính là lịch sử Cơ Đốc. Những sự bắt bớ và đau khổ như chúng ta thấy ngày nay tại Trung Đông, Châu Á và Châu Phi chính là điều ghi dấu môn đồ Đấng Christ từ khi hội thánh được bắt đầu. Trong gần ba trăm năm trước khi Đạo Cơ Đốc được Constantine hợp pháp hoá, môn đồ Đấng Christ đã đối diện với sự bắt bớ kinh khủng. Trong mười thế hệ, Cơ Đốc Nhân đã đào gần sáu trăm hầm mộ dưới lòng đất khắp thành Rô-ma. Các hầm mộ là nơi Cơ Đốc Nhân thường bí mật nhóm lại để thờ phượng Chúa. Hàng nghìn Cơ Đốc Nhân đã bị chôn tại các hầm mộ này vì sự bắt bớ dữ dội.

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy một từ xuất hiện rất phổ biến trong các hầm mộ. Đó là một chữ Hy Lạp: ichthus (nghĩa là con cá), từ này được hợp thành từ các ký tự đầu của một câu trong tiếng Hy Lạp: “Đức Chúa Giê-su Christ, Con Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Rỗi.” Có lẽ bạn sẽ nhận ra dấu hiệu này bởi vì Cơ Đốc Nhân thường dán chúng lên xe của họ. Chúng ta đã đi xa như thế nào khi dán biểu tượng gắn liền với các anh chị em tử đạo của thế kỷ đầu tiên vào sau chiếc ô tô của thế kỷ hai mươi mốt.

 

Tàu vận tải quân đội hay du thuyền xa hoa?

Ngôn ngữ trong Ma-thi-ơ 10 thể hiện Đức Chúa Giê-su giống như một tướng lãnh sai phái quân lính thực hiện nhiệm vụ. Ngài gọi các môn đồ và sai họ ra đi. Trước những nhu cầu và hiểm nguy xung quanh, các môn đồ biết họ đang bước vào một cuộc chiến.

Vào cuối những năm 1940, chính phủ Hoa Kỳ đã uỷ nhiệm cho William Francis Gibbs làm việc với hãng United States Lines để đóng một con tàu chuyên chở quân đội trị giá tám mươi triệu đô la cho hải quân. Mục đích là thiết kế một con tàu có thể nhanh chóng chuyên chở mười lăm nghìn quân lính khi xảy ra chiến tranh. Đến năm 1952, tàu SS United States được hoàn thành. Con tàu có thể di chuyển bốn mươi bốn hải lý một giờ (82 ki lô mét giờ), và có thể di chuyển mười sáu nghìn ki lô mét mà không cần phải dừng lại để tiếp nhiên liệu hoặc nhu yếu phẩm. Con tàu có thể chạy nhanh hơn bất kỳ con tàu nào khác và có thể di chuyển không ngừng nghỉ đến bất cứ nơi đâu trên thế giới trong vòng mười ngày hoặc ít hơn. Tàu SS United States là con tàu vận tải quân đội nhanh nhất và đáng tin cậy nhất trên thế giới.

Vấn đề duy nhất đó là con tàu chưa từng được sử dụng để chuyên chở quân đội. Ít nhất con tàu này chưa bao giờ được sử dụng đúng với khả năng của nó. Con tàu nhận nhiệm vụ trực chiến trong suốt khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, ngoài ra con tàu này chưa từng được Hải Quân Hoa Kỳ sử dụng đúng với chức năng của nó.

Ngược lại, tàu SS United States đã trở thành chiếc du thuyền xa hoa dành cho tổng thống, nguyên thủ quốc gia và nhiều người nổi tiếng khác trong suốt bảy mươi năm phục vụ. Là một du thuyền xa hoa, tàu không thể chuyên chở mười lăm nghìn quân lính. Con tàu chỉ có thể đón tiếp tối đa hai nghìn du khách. Du khách được hưởng những thứ xa hoa của 695 phòng ngủ, 4 phòng ăn, 3 quầy rượu, 2 nhà hát, 2 héc-ta boong tàu với một bể bơi nước nóng, 19 thang máy và những tiện nghi của một con tàu chở khách đầu tiên trên thế giới được trang bị hệ thống điều hoà toàn bộ. Thay vì được sử dụng cho quân đội khi xảy ra chiến tranh, tàu SS United States lại trở thành phương tiện để những khách hàng giàu có được chìm đắm trong những thú vui khi họ thong dong cách yên bình khắp Đại Tây Dương.

Mọi điều của một chiếc du thuyền xa hoa đều hoàn toàn khác với một con tàu chuyên chở quân đội. Gương mặt của những binh lính trước khi ra trận hoàn toàn khác với những du khách đang nhấm nháp món kẹo ngọt phủ sô-cô-la. Những trao đổi trên một chiếc tàu vận chuyển binh lính hoàn toàn khác với những cuộc tán gẫu trên một chiếc du thuyền. Và tốc dộ di chuyển của một con tàu vận chuyển binh lính phải nhanh hơn một chiếc du thuyền. Trên hết, tàu vận chuyển binh lính có một nhiệm vụ cấp thiết phải hoàn thành; ngược lại du thuyền được tự do tận hưởng chuyến đi của họ.

Khi nghĩ về tàu SS United States, tôi tự hỏi phải chăng chúng ta cũng học được một bài học nào đó về lịch sử hội thánh. Cũng giống như tàu SS United States, hội thánh được thiết kế cho những cuộc chiến. Mục đích của hội thánh là huy động con người thực hiện một nhiệm vụ. Song dường như chúng ta đã biến hội thánh từ một con tàu vận chuyển binh lính thành một chiếc du thuyền xa hoa. Dường như chúng ta đã tự tổ chức chính mình, không phải để tham gia vào cuộc chiến vì những linh hồn của con người trên khắp thế giới, nhưng để đắm chìm vào những điều thoải mái bình yên của thế gian này. Điều này khiến tôi tự hỏi sẽ ra sao nếu chúng ta nhìn thẳng vào một thế giới với 4.5 tỷ người sẽ đi đến địa ngục và hai mươi sáu nghìn trẻ em tử vong mỗi ngày vì đói hoặc vì một căn bệnh có thể được phòng ngừa, và chúng ta quyết định rằng đây chính là lúc lái con tàu vào chiến trường thay vì ngã lưng bên hồ bơi trên boong tàu và chờ đợi nhân viên phục vụ món đồ nguội khai vị.

Chúng ta có sẵn lòng tuân theo các mệnh lệnh của Đấng Christ? Chúng ta có sẵn lòng trở nên giống Ngài? Chúng ta có sẵn lòng mạo hiểm cuộc sống để đi đến những nơi có nhu cầu và những nơi nguy hiểm – dù nơi đó là trung tâm thành phố, một người hàng xóm đang gặp khó khăn, những cộng đồng cần chăm sóc y tế tại Châu Phi, hoặc những nơi thù địch tại Trung Đông? Chúng ta có sẵn lòng thay đổi suy nghĩ về Đạo Cơ Đốc theo hướng từ một chiếc du thuyền xa hoa đi tìm kiếm niềm vui thích trong thế gian này sang một chiếc tàu vận chuyển binh lính, từ bỏ những điều thoải mái trong thế gian để hoàn thành một nhiệm vụ có ý nghĩa đời đời và nhận được một phần thưởng đích thực trong cõi đời đời?

 

 DAVID PLATT

Translated by Vinh Hien

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *