Những điều “lớn” trong sách Khải Huyền

Những điều “lớn” trong sách Khải Huyền

Trần Đình Tâm

Sách Khải Huyền chứa đựng nhiều yếu tố đặc biệt khác hẳn những sách khác trong Kinh Thánh. Đặc biệt Khải Huyền đề cập đến nhiều điều “LỚN” (GREAT) so với 65 sách còn lại.

Trên phương diện văn phạm, “lớn” (great, mighty) là một tính từ, dùng để mô tả hình dạng, tính chất, đặc điểm, v.v… của một chủ thể nào đó. Đối với sách Khải Huyền, là sách tiên tri về thời kỳ sau cùng, tính từ “lớn” càng có ý nghĩa độc đáo, nó chỉ ra tầm quan trọng đặc biệt, hay chỉ ra một mức độ khác thường mà trước đó chưa từng có và sau đó cũng không có nữa. Xin trưng dẫn Giô-ên 2:2 làm ví dụ, đây là câu Kinh Thánh tiên tri về thời kỳ sau cùng, trùng hợp với một biến cố được nói đến trong sách Khải Huyền: “Có một dân LỚN (great) và mạnh đến như ánh sáng sớm mai giãi ra trên núi, đến nỗi từ trước chưa hề có, mà về sau nầy, về muôn đời sau nầy cũng sẽ không có như vậy nữa.”

Chúng tôi xin liệt kê những điều được kể là “lớn” được tìm thấy trong sách Khải Huyền. Ý nghĩa của những điều nầy sẽ được hiểu rõ hơn khi chúng ta nghiên cứu từng chương của Khải Huyền.

1. Ngày lớn (great day):

+ “… ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng.” (16:14)

+ “Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?” (6:17)

“Ngày lớn” chỉ về thời kỳ Đức Chúa Trời đoán phạt thế gian, còn gọi là “ngày thạnh nộ” của Chúa. Không ai biết được ngày nầy bắt đầu lúc nào. Chúng ta biết chắc ngày nầy chỉ bắt đầu sau khi Chúa Jesus đem Hội Thánh ra khỏi thế gian.

2. Tai nạn lớn (great tribulation):

“Nầy, ta quăng nó trên giường đau đớn, và phàm kẻ nào phạm tội tà dâm với nó, mà không ăn năn việc làm của nó, thì ta cũng quăng vào tai nạn lớn.” (2:22)

Tai nạn lớn ám chỉ đến “cơn đại nạn” trong ngày cuối cùng.

3. Cơn gió lớn (great wind):

“Các vì sao trên trời sa xuống đất, như những trái xanh của một cây vả bị cơn gió lớn lung lay rụng xuống.” (6:13)

4. Lò lửa lớn (great furnace):

“Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn.” (9:2)

5. Tiếng sấm lớn (great thunder):

“Tôi nghe một tiếng từ trên trời xuống, y như tiếng nhiều nước, và như tiếng sấm lớn; tiếng mà tôi nghe đó như tiếng đàn cầm mà người đánh đàn gảy vậy.” (14:2)

6. Thùng lớn (great winepress):

“Thiên sứ quăng lưỡi liềm xuống đất, cắt vườn nho ở đất và ném nho vào thùng lớn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.”(14:19)

7. Động đất lớn (great earthquake):

“Liền có chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang và động đất lớn, động đất lớn lắm đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa hề có như vậy.” (16:18)

8. Mưa đá lớn (great hail):

“Những cục mưa đá lớn, nặng bằng một ta-lâng, ở trên trời rớt xuống trên loài người; loài người bèn nói phạm đến Đức Chúa Trời bởi cớ tai nạn mưa đá ấy, vì là một tai nạn gớm ghê.” (16:21)

9. Cối xay lớn (great millstone):

“Bấy giờ một vị thiên sứ rất mạnh lấy một hòn đá như cối xay lớn quăng xuống biển.” (18:21)

10. Ngôi sao lớn (great star):

“Vị thiên sứ thứ ba thổi loa, thì một ngôi sao lớn ở trên trời rơi xuống, cháy có ngọn như một bó đuốc; ngôi sao ấy rơi vào một phần ba các sông và các suối nước.” (8:10)

11. Thành lớn (great city):

+ “Thây hai người sẽ còn lại trên đường cái của thành lớn, gọi bóng là Sô-đôm và Ê-díp-tô, tức là nơi mà Chúa hai người cũng đã bị đóng đinh trên thập tự giá.” (11:8)

+ “Thành lớn bị chia ra làm ba phần, còn các thành của các dân ngoại đều đổ xuống.” (16:19)

12. Con rồng lớn (great gragon):

“Trên trời cũng hiện ra một dấu khác nữa: là một con rồng lớn sắc đỏ, có bảy đầu, mười sừng, và trên đầu có bảy mão triều thiên.” (12:3)

Con rồng lớn là Sa-tan. Trong thời đại nạn, Sa-tan được phép tự do hoạt động.

13. Cơn giận lớn (great wrath):

“Khốn nạn cho đất và biển! vì ma quỉ biết thì giờ mình còn chẳng bao nhiêu, nên giận hoảng (great wrath) mà đến cùng các ngươi.” (12:12)

[Bản Truyền Thống 1926 hay Truyền Thống Hiệu Đính đều dịch là “giận hoảng” thì không lột tả được ý ngĩa của “great wrath”, dịch là “cơn giận dữ” hay “cơn thịnh nộ” thì chính xác hơn]

Trong cơn đại nạn, Sa-tan nổi “cơn lôi đình” trên những người Do Thái và những người không theo nó.

14. Thanh gươm lớn (great sword):

“Kẻ ngồi trên ngựa được quyền cất lấy cuộc hòa bình khỏi thế gian, hầu cho người ta giết lẫn nhau; và có kẻ ban cho người một thanh gươm lớn.” (6:4)

15. Thẩm quyền lớn (great authority):

+ “Con thú tôi thấy đó giống như con beo; chân nó như chân gấu, miệng như miệng sư tử, và con rồng đã lấy sức mạnh, ngôi, và quyền phép lớn mà cho nó.” (13:2)

Bản Truyền Thống 1926 dịch “authority” là “quyền phép” thì không chính xác. Nên dịch là “thẩm quyền” như Bản Truyền Thống Hiệu Đính đã dịch như sau:

“Con thú tôi xem thấy giống như con beo, chân như chân gấu, miệng như miệng sư tử. Con rồng đã ban cho nó quyền lực, ngai báu và thẩm quyền lớn.”

+ “Sau điều đó, tôi thấy một vị thiên sứ khác ở trên trời xuống, người có quyền lớn (great au thotity), và sự vinh hiển người chiếu rực rỡ trên đất.” (18:1)

16. Dấu lạ lớn (great sign, great wonder):

+ “Nó thực hiện những dấu lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trên trời rơi xuống đất trước mặt người ta.” (13:13) [Bản Truyền Thống Hiệu Đính]

+ “Đoạn, trên trời hiện ra một dấu lớn (great sign): một người đàn bà có mặt trời bao bọc, dưới chân có mặt trăng, và trên đầu có mão triều thiên bằng mười hai ngôi sao.” (12:1)

17. Ba-by-lôn lớn (Babylon the great):

“Trên trán nó có ghi một tên, là: Sự Mầu nhiệm, Ba-By-Lôn Lớn, Là Mẹ Kẻ Tà Dâm Và Sự Đáng Gớm Ghê Trong Thế Gian.” (17:5)

Ba-by-lôn lớn làm hình bóng về tôn giáo toàn cầu trong ngày sau cùng.

18. Đại dâm phụ (great prostitute, great whore, great harlot):

“Lại đây ta sẽ chỉ cho ngươi sự phán xét về con đại dâm phụ (great prostitute), nó ngồi trên các dòng nước lớn kia.” (17:1)

19. Sông lớn (great river):

“Tiếng ấy nói cùng vị thiên sứ thứ sáu đang cầm loa rằng: Hãy cổi cho bốn vị thiên sứ bị trói trên bờ sông lớn Ơ-phơ-rát.” (9:14)

20. Tiệc lớn (great supper):

“Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời.” (19:17)

21. Cái xiềng lớn (great chain):

“Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn.” (20;1)

22. Tòa lớn màu trắng (great white throne):

“Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa.” (20:11)

 

Tháng 5, 2016

tamtran1561@yahoo.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *