Vì Sao Đa Số Người Việt Chưa Tin Chúa?

Tại sao có nhiều người Việt chưa tin Chúa?

Một trong những câu hỏi thường xuyên trong đầu óc tôi và trong lòng tôi là tại sao sau hơn 100 năm Tin Lành được truyền đến Việt Nam, nhưng cho đến nay số người Việt tin Chúa vẫn là thiểu số so với dân số Việt càng ngày càng gia tăng. Nếu tính chung với Giáo Hội Công Giáo gọi là Thiên Chúa Giáo, con số người Việt tin Chúa vẫn chỉ là 10% dân số. Giữa người Kinh và người các dân tộc tin Chúa thì số người các dân tộc tin Chúa lại chiếm số đông hơn. Số người Việt dân tộc Kinh tin Chúa vẫn còn quá ít.

 

Tôi đã thử đưa ra những lý do cả khách quan lẫn chủ quan để tìm cho được lý do, và tôi hy vọng các học viên người Việt sẽ cùng tôi tìm ra lý do xác đáng giúp chúng ta biết cách làm gì để đẩy mạnh sự nghiệp truyền bá tin lành trên quê hương.

Lý do thứ nhất là “Lời nguyền địa lý.”

Việt Nam có địa lý giáp Trung Quốc phía bắc và phía Tây, phía Nam gần sát Lào và Campuchia. Đây là những nước có dân số theo Nho Giáo và Phật Giáo rất đông. Nước Việt cũng như Trung Quốc và Ấn Độ đều nằm trong lãnh thổ Á Châu theo truyền thống Đông Phương. Theo triết lý và tôn giáo Đông Phương.

Giống như một người con sinh ra trong gia đình theo Ấn Giáo hay Phật Giáo thì người con đó thường theo đạo Ấn hoặc đạo Phật. Ở nước Do Thái hay ở các nước theo Hồi Giáo cũng vậy. Phần lớn người ta theo đạo là vì gia đình đã theo truyền thống tôn giáo nầy hay tôn giáo khác.

Dân tộc Việt Nam chưa thoát được ảnh hưởng ngoại giáo đang hoạt động mạnh mẽ chung quanh với phong tục tập quán ngàn đời ăn sâu vào gốc rễ đời sống.

Niềm tin của người Á Đông là huyền bí, là tín ngưỡng đa thần, là đầu thai chuyển kiếp, là sống không cần Trời…

Nhưng tại sao ngày nay đa số người Nam Hàn và Singapore lại từ bỏ hình tượng để theo Chúa Giê-su?

Lý do thứ hai là “Bản tính dân tộc Việt.”

Tại sao có hàng triệu người Việt tha hương đang sống ở các nước có đa số theo Đạo Chúa vẫn không chịu tin Chúa? Có phải vì bản tính người Việt không thích hợp với ánh sáng lẽ thật của tin lành? Có phải vì bản tính “cứng lòng” của dân tộc Việt Nam?

Người Việt nặng mê tín dị đoan, thích chạy theo đám đông, sợ các quyền lực Ma qủy, sợ thế lực chính quyền, sợ gia đình chống đối tư tưởng mới, ngại thay đổi, ngại không giống ai, thích thói quen “xưa bày nay bắt chước.” Người Việt hài lòng với sự lãnh đạo của người khác, không dám tự lãnh đạo chính mình và gia đình mình. Người Việt chỉ học để vừa đủ khả năng đi làm kiếm tiền, không học để khám phá, sáng tạo, so sánh, nhận định, lựa chọn, dấn thân. Người Việt quen với nông nghiệp và không nặng với công nghiệp, thích làm thuê an nhàn hơn là làm chủ cầu tiến.

Nếu là bản tính thì chỉ Trời mới có khả năng thay đổi.

Lý do thứ ba là tình trạng nô lệ thuộc linh.

Trải bao đời người Việt chưa thoát được tình trạng nô lệ cho tội lỗi và đang ở dưới quyền kiểm soát của kẻ thù nghịch với Đức Chúa Trời mà Kinh Thánh gọi là Ma Quỷ. Giống như bị mù, bị điếc, người Việt không nghe tiếng cảnh cáo của Chúa, không thấy Ma Qủy đã sử dụng các truyền thống tôn giáo, lễ nghi, thói quen, và đám đông xã hội để trói buộc con người. Người Việt quen với bóng tối. Người Việt an phận với tình trạng nô lệ tâm linh. Vì mù lòa thuộc linh không thấy và không biết ách nô lệ nầy nên người Việt không nhìn thấy ước mơ cần được giải thoát. Thử lấy hình ảnh dân tộc Do Thái mang ách nô lệ của triều đình Ai Cập suốt 400 năm, họ quen thuộc và chấp nhận thân phận nô lệ mãi cho đến một ngày khi mọi người chịu không nỗi và kêu van với Chúa.

Khi người Việt nghe tin lành, đọc Kinh Thánh và biết rõ con đường cứu rỗi. Khi ánh sáng của Chúa khai mở tâm linh, tâm trí, tấm lòng thì người Việt mới nhận chân sự thật của mình và lúc đó họ mới khao khát tìm kiếm con đường giải thoát.

Lý do thứ tư có thể là do chính những Việt đã tin Chúa đang sống bình thản thờ phượng Chúa và rao giảng tin lành, không có động tỉnh gì khác biệt? Chúng ta không đủ đức tin để tin cậy và làm theo ý Chúa. Chúng ta không đủ đức tin và lòng nhiệt huyết để làm theo gương của Chúa.

Tôi nghe có câu danh ngôn nói rằng: “Người ta tin Chúa vì đã thấy một tín nhân và người ta không tin Chúa cũng vì đã thấy một tín nhân.” Phải chăng đa số tín hữu tin lành trong nhà thờ đều ăn ở giống như người thế gian? Không ai muốn sống khác người?

Thiên hạ có khi đang ngủ cả, tội gì mà thức một mình ta?

 Tôi thường tự hỏi người Việt chung quanh có nghe người Việt tin Chúa nói gì với họ hay không? Có phải chúng ta quá coi trọng Đại Điều Răn và coi nhẹ Đại Mạng Lịnh? Có phải chúng ta thích ngồi xuống để thờ phượng, đứng lên để phục vụ nhau trong nhà thờ nhưng không chịu ra đi để truyền giáo? Chúng ta quanh quẩn trong tháp ngà và không chịu đi ra ngoài cánh đồng? Chúng ta ngại thương ngại khó? Chúng ta đang tự biện hộ sự biếng nhác của mình bằng nhiều lý do?

Ngân sách hoạt động của chúng ta đang dành bao nhiêu phần trăm để thi hành Đại Điều Răn và bao nhiêu phần trăm để thi hành Đại Mạng Lịnh? Trả lời được câu hỏi nầy sẽ quyết định sự nghiệp truyền giáo của chúng ta đang tiến hay đang lùi.

Lý do thứ năm khiến tôi lo sợ và quặn thắt nhất có thể là về phía của Đức Chúa Trời.

Theo sách Rô-ma chương 1, tôi thấy hai chữ nổi bật, đáng chú ý:

Đức Chúa Trời nổi giận…

Đức Chúa Trời phó mặc…

Có thể nào Đức Chúa Trời đang nổi giận với người Việt và Ngài đang phó mặc người Việt chúng ta cho sự hư mất, cho Ma quỷ, cho hỏa ngục?

Người Việt chúng ta sẽ làm gì để Đức Chúa Trời ngưng nổi giận và ngưng phó mặc hay không?

Trong lịch sử, nước Mỹ đã được phục hưng vào đầu thế kỷ 18 nhờ Mục Sư Jonathan Edwards đã giảng bài giảng, “Tội nhân dưới cơn giận của Đức Chúa Trời” (Sinners in the Hands of Angry God, 1741), tạo ra cơn Đại Tỉnh Thức của nước Mỹ và thế giới (Great Awakening). Ngày nay ai nấy cũng đều giảng, “Tội nhân trong vòng tay yêu thương của Chúa.” Có người đang chủ trương nều Chúa muốn thì người ta sẽ tự động chạy đến với Chúa. Hay rồi đây ai nấy đều sẽ được lên thiên đàng? Chúa yêu thương mà!?

Tôi tin rằng dầu chúng ta hiểu gì, hay giảng gì, bản tính của Đức Chúa Trời vẫn không thay đổi. Kinh Thánh không thay đổi. Chương trình cứu rỗi của Chúa dành cho nhân loại không thay đổi! Vì thế chúng ta không trông đợi Chúa thay đổi nhưng chính mình chúng ta phải thay đổi trước.

Tôi tin rằng ngày nay nếu mỗi người trong các Hội Thánh của chúng ta nhìn thấy tình hình, biết tính của Chúa, mang tâm tình thương xót vị tha của Chúa, ra đi mở miệng làm chứng tin lành trong quyền năng thúc giục của Chúa Thánh Linh, đồng bào Việt Nam sẽ “quay lại ăn năn và đặt đức tin nương nhờ nơi Chúa Giê-su, Con Một của Đức Chúa Trời đã hy sinh trên thập tự giá.” Đức Chúa Trời sẽ làm ơn và tha thứ cho người Việt Nam. Đó là niềm hy vọng duy nhất của chúng ta.

Tôi còn được an ủi nơi Kinh Thánh về lời hứa của Đức Chúa Trời:

“Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn. Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. (1 Phi-e-rơ 3:9)

Chúng ta còn một hy vọng nữa khi chú tâm tìm cách giúp người Việt đọc Kinh Thánh và nghe được sứ điệp cứu rỗi tin lành. Bởi vì đức tin đến bởi sự người ta nghe mà người ta nghe là khi lời của Đấng Christ được rao giảng.

“Nhưng nói làm sao? Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi. Ấy là đạo đức tin mà chúng ta giảng dạy. 9 Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giê-su ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; 10 vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi. 11 Vả, Kinh thánh nói rằng: Kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. 12 Trong người Giu-đa và người Gờ-réc không có sự phân biệt gì hết, vì họ có chung một Chúa, giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài. 13 Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. 14 Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? 15 Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? Như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin lành là tốt đẹp biết bao! 16 Nhưng chẳng phải mọi người đều nghe theo tin lành đâu; vì Ê-sai có nói rằng: Lạy Chúa, ai tin lời chúng tôi rao giảng? 17 Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng” (Rô-ma 10: 8-17).

Ngày nay chúng ta có thể giảng tin lành trên radio, TV, facebook, Youtube, Zoom, Smart phone… và nhiều phương tiện khác. Rất nhiều tín hữu ngày nay có tài năng, có chuyên môn, có thể giúp nhau làm việc truyền thông, truyền tin nầy.

Nhưng phải chăng chúng ta quá bận rộn vì nhiều việc cần thiết khác trên đời và chúng ta không có thời giờ nào để dự phần truyền bá tin lành?

Chúng ta có thể trả lời với Chúa là chúng con quá bận rộn để sống và không thể tham gia việc Chúa truyền chúng con hay không?

Bạn có thấy lý do nào khác khiến nhiều người Việt vẫn còn khước từ và chưa tiếp nhận Chúa hay không?

Biết biết có cách nào tốt hơn giúp cho việc truyền bá tin lành tiến tới trên quê hương chúng ta hay không?

Tương lai của người Việt tùy thuộc vào nhận định và quyết định của chính bạn và tôi hôm nay.

Mục sư Nguyễn Văn Huệ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *