Mặc Khải Đặc Biệt Là Gì?


Mặc Khải Đặc Biệt Là Gì?

NHU CẦU CHO MẶC KHẢI ĐẶC BIỆT

Trong khi bản chất tự nhiên của con người và cõi sáng tạo bày tỏ một số điều về Đức Chúa Trời. Tuy nhiên những điều này không được thiết kế để chúng ta có thể hiểu biết đầy đủ về Ngài và ý muốn Ngài cho chúng ta. Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta cho chính Ngài. Đức Chúa Trời sáng tạo chúng ta để chúng ta thiết lập mối quan hệ với Ngài. Nhìn vào sự xinh đẹp và trật tự hài hòa trong vườn Ê-đen, A-đam và Ê-va biết đến các tác phẩm của Đức Chúa Trời, nhưng nếu muốn nhận biết Ngài cách cá nhân họ phải giữ mối tương giao gần gũi với Ngài. Từ buổi bình minh của lịch sử con người, Đức Chúa Trời không chỉ bày tỏ chính Ngài qua cõi sáng tạo, nhưng cũng bày tỏ trực tiếp bằng các lời của Ngài.

Ngắm nhìn cõi sáng tạo và suy ngẫm về bản chất của chúng, có thể sẽ không bao giờ giúp cho A-đam và Ê-va đi đến chỗ nhận biết ý muốn Đức Chúa Trời và mục đích Ngài dành cho cuộc đời của họ là cai quản trái đất (Sáng thế ký 1:26-28), và chăm sóc khu vườn (2:15). Đức Chúa Trời đã giao nhiệm vụ này cho họ thông qua các lời (words). Chúng ta không biết đầy đủ các chi tiết về sự giao tiếp giữa Đức Chúa Trời với tổ phụ loài người. Tuy nhiên từ “đi ngang”  trong Sáng thế ký 3:8, “Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời” cho biết rằng đó là một sự xuất hiện thường xuyên của Ngài. Từ này cũng được dùng khi đề cập đến sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đền tạm. Vì vậy một người nghiên cứu Kinh Thánh kết luận rằng vườn Ê-đen cũng như đền tạm là nơi chốn Đức Chúa Trời hiện diện, và rằng “có thể một cuộc trò chuyện hàng ngày giữa Đấng Toàn năng và các sinh vật của Ngài như một thông lệ” Vì vậy, ngay từ ban đầu, mặc khải phổ quát thông qua tự nhiên đã cung cấp nền tảng cho giao tiếp bằng lời nói cá nhân.

 

Sự xâm nhập của tội lỗi vào thế giới làm tăng nhu cầu giao tiếp cá nhân. Thông qua tự nhiên và lương tâm, lịch sử bày tỏ rằng con người đi đến một nhận thức là có Đức Chúa Trời, và Ngài thiết lập thế giới loài người trên những nguyên tắc của luật đạo đức. Con người cũng có ý thức là không ai có thể sống và thực hành kiên định trên những luật này. Nhưng không nơi nào trong tự nhiên hay trong chính con người mà chúng ta tìm ra lối thoát cho tình huống khó xử này.

Lịch sử của các tôn giáo bày tỏ rằng khi con người không nhận được khải thị đặc biệt của Đức Chúa Trời, họ không tìm thấy sự giải thoát thực sự khỏi cảm giác tội lỗi. Các tôn giáo được xây dựng lên để tìm câu trả lời, nhưng ngoại trừ sự khải thị đặc biệt, thì những người sùng đạo vẫn còn bị mắc kẹt với những kiến thức họ có trong khải thị phổ quát. Họ biết họ phải sống theo những tiêu chuẩn rõ ràng, cụ thể. Nhưng họ không thể. Do đó họ thiết lập nhiều phương cách để bù đắp cho sự thất bại của họ.

Không thể tránh khỏi các tôn giáo được thành lập dựa trên sự mặc khải phổ quát là những tôn giáo của công đức/việc làm. Không nhận được sự khải thị đặc biệt về sự tha thứ của Đức Chúa Trời xuyên qua Đấng Christ, họ không bao giờ được yên nghỉ với những gánh nặng của tội lỗi. Trước giả Thi thiên đã viết, “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi. 19:1) và “Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại” (Thi. 19:7).

Sự mặc khải đặc biệt bổ sung một số chân lý còn thiếu trong sự khải thị phổ quát về Đức Chúa Trời trong cõi sáng tạo, và nó cũng khiến cho con người có khả năng để nhìn xem các lẽ thật trong sự mặc khải phổ quát chính xác. Cho đến khi một người được phục hòa với Đức Chúa Trời nhờ vào mối liên hệ cá nhân với Chúa Giê-su Christ, thì người người đó mới có thể nhìn xem thế giới trong lăng kính của Đức Chúa Trời. Chỉ có sự soi sáng của Đức Chúa Trời mới có thể mở đôi mắt bị mù vì tội lỗi.  Người nào nói đến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong các từng trời là một người tin kính Ngài. Nhưng một người vô thần nhìn vào các từng trời, anh ta sẽ đưa ra một kết luận khác. John Calvin, nhà cải chánh vĩ đại của Pháp, đã minh họa một cách khéo léo sự cần thiết của khải thị đặc biệt cho một người đọc “quyển sách của tự nhiên” một cách chính xác, “Cũng giống như những người đàn ông già hoặc mắt mờ và những người có thị lực yếu, nếu bạn ném trước mặt họ một tập sách đẹp nhất, ngay cả khi họ nhận ra đó là một loại văn bản nào đó, nhưng họ khó có thể đọc ra hai từ, nhưng với sự hỗ trợ của kính đeo mắt họ sẽ bắt đầu đọc một cách rõ ràng; vì vậy  tập họp những  hiểu biết về Đức Chúa Trời còn lộn xộn trong tâm trí chúng ta qua mặc khải phổ quát thì Kinh Thánh đã giải tán sự buồn tẻ của chúng ta, cho chúng ta thấy rõ một Đức Chúa Trời chân thật.”

 Sự mặc khải đặc biệt mà qua đó Đức Chúa Trời giao tiếp trực tiếp theo cách cá nhân, do đó rất quan trọng đối với đời sống con người. Từ buổi ban đầu con người được tạo dựng để giao tiếp với Đức Chúa Trời. Khi tội lỗi bước vào trong dòng dõi loài người, nó phá vỡ sự thông công này. Nhưng kế hoạch của Đức Chúa Trời yêu thương là phục hồi sự gãy đổ. Điều này đòi hỏi Đức Chúa Trời của ân điển phán với chúng ta qua sự mặc khải đặc biệt.

 

NHỮNG HÌNH THỨC CỦA SỰ MẶC KHẢI ĐẶC BIỆT

Đức Chúa Trời giao tiếp với chúng ta bằng cách nào? Một số học giả nói rằng Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài trong các hành động quyền năng xuyên suốt lịch sử, và không qua Lời. Một số khác chỉ ra rằng sự mặc khải cá nhân về Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Đấng Christ. Bởi vì Đấng Christ được gọi là Ngôi Lời (Giăng 1:1), họ lập luận rằng những lời của Kinh Thánh không phải là Ngôi Lời. Những quan điểm như thế đòi hỏi chúng ta phải tra xét cẩn thận những gì Kinh Thánh nói về sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời.

Trước giả sách Hê-bơ-rơ công bố, “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian » (Hê-bơ-rơ 1 :1-2). Tại tuyên bố này gợi ý, mặc khải đặc biệt cũng bao gồm một loạt các phương pháp khác, lên đến đỉnh điểm là sự xuất hiện của Con Đức Chúa Trời.

Các biểu hiện về Đức Chúa Trời mà con người có thể nhìn thấy được (Theophanies).

Phương cách nổi bật mà Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài từ buổi bình minh của lịch sử được ghi lại trong Kinh Thánh là thông qua các biểu hiện có thể nhìn thấy được cho con người về Đức Chúa Trời. Từ theophany  có nguồn gốc từ hai từ Hy-lạp là Theos (Đức Chúa Trời) và phaino (hiển thị hoặc xuất hiện). Vì vậy Theophany là sự xuất hiện của Đức Chúa Trời.

Trong một số trường hợp các hình thức của sự xuất hiện Đức Chúa Trời không được bày tỏ. Ví dụ, khi Kinh Thánh ký thuật, “Đức Giê-hô-va hiện ra cùng Áp-ram” (Sáng. 12:7). Trong những trường hợp khác Kinh văn chỉ ra rằng Đức Chúa Trời đã có những hình thức khác nhau để làm cho chính Ngài được biểu hiện. Trong một cơ hội, Áp-ra-ham bày tỏ lòng hiếu khách chào mửng ba người đàn ông đến trong nhà trại của mình. Hai người trong số họ là thiên sứ, nhưng người thứ ba là chính Đức Chúa Trời. “Áp-ra-ham nhưng mắt lên, thấy ba người đứng trước mặt. Vừa khi thấy, bèn bắt từ cửa trại chạy đến trước mặt ba người đó, sấp mình xuống đất” (Sáng. 18:2). “các đấng bèn từ đó đi qua hướng Sô-đôm; nhưng Áp-ra-ham hãy còn đứng chầu trước mặt Đức Giê-hô-va.  Áp-ra-ham lại gần và thưa rằng: Chúa sẽ diệt người công bình luôn với người độc ác sao?” (câu 22-23). “Lối chiều, hai thiên sứ đến Sô-đôm; lúc đó, Lót đương ngồi tại cửa thành. Khi Lót thấy hai thiên sứ đến, đứng dậy mà đón rước và sấp mình xuống đất” (19:1).

Con người bí ẩn mà đã vật lộn với Gia-cốp tại Phê-ni-ên cũng là một trong những hình thức hiện ra của Đức Chúa Trời. Gia-cốp đã nói, “Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu” (câu 30).
Nhiều lần sự hiện ra của Đức Chúa Trời được Kinh Thánh mô tả là “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va.”  Chúng ta đọc trong Xuất. 3:2, “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng người (Môi-se) trong ngọn lửa, giữa bụi gai kia.”  Và thiên sứ này cũng hiện ra trong hình dáng của một con người, và Kinh văn làm cho điều này sáng tỏ người đó không phải là thiên sứ bình thường. Một số điều về sự xuất hiện của thiên sứ hoặc thông điệp tiên tri của ông đã nói với A-ga khi bà đang trốn chạy trong sa mạc, “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va dạy nàng rằng: Ngươi hãy trở về chủ ngươi …

Nàng gọi Đức Giê-hô-va mà đã phán cùng mình, danh là “Đức Chúa Trời hay đoái xem,” vì nàng nói rằng: Chính tại đây, tôi há chẳng có thấy được Đấng đoái xem tôi sao?” (Sáng. 16:9-13). Từ sự hiện ra đáng kinh sợ, cùng với lời tiên tri và cách mà “thiên sứ của Đức Giê-hô-va cũng lên theo trong ngọn lửa của bàn thờ” (Các quan xét 13:20), cha mẹ của Sam-sôn biết đó là thiên sứ của Đức Giê-hô-va, và cũng là Đấng họ nhận biết là Đức Giê-hô-va (Các quan xét 13:3-23; cũng xem 6:11-24).

Mặc dù không phải là “theophanies” theo nghĩa đen, thiên sứ đã xuất hiện trong các giấc mơ (Sáng. 31:11-13) và nói chuyện với từng cá nhân mà không có bất kỳ hình dáng rõ ràng nào (ví dụ, 22:11-12). Nhiều sinh viên trường Kinh Thánh tin rằng thiên sứ của Đức Giê-hô-va không phải ai khác nhưng là chính là Con Đức Chúa Trời mà sau này đã giáng sinh tại Bết-lê-hem. Mặc dù điều này có thể không được kết luận, nhưng thực tế là Ngài có thể tha thứ tội lỗi và việc Ngài mang danh Đức Chúa Trời cho thấy rõ ràng rằng Ngài là sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Theo một nghĩa khác, sự xuất hiện của Đấng Christ trong thân xác con người cũng là một biểu hiện về Đức Chúa Trời mà con người có thể nhìn thấy được, nhưng nó khác với tất cả những điều còn lại. Trong những trường hợp khác, Đức Chúa Trời chỉ mặc lấy một hình dạng khi Chúa Giê-su giáng sinh, Đức Chúa Trời Con đã mặc lấy chính Ngài trong bản chất con người xác thực.

 

Các giấc mơ và khải tượng

Mặc dù các giấc mơ không đóng vai trò chính trong sự mặc khải, vào một số trường hợp quan trọng, đặc biệt là trong sách Sáng thế ký và Đa-ni-ên, Đức Chúa Trời truyền thông điệp đến các đầy tớ Ngài thông qua các giấc mơ. Một trường hợp được nhiều người biết đến là Gia-cốp nhìn thấy một cái thang từ đất nối lên đến trời (Sáng. 28:12-16) và giấc mơ của Giô-sép liên quan đến vị trí lãnh đạo trong tương lai của ông (Sáng. 37:5-7, 9). Sa-lô-môn trong 1 Các vua 3:5 và Giô-sép, chồng của Ma-ri cũng nhận được các giấc mơ mà qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ khải thị thiên thượng.

Các giấc mơ không chỉ giới hạn trong dân sự của Đức Chúa Trời, Ngài cũng bày tỏ kế hoạch tương lai của Ngài trong giấc mơ cho Pha-ra-ôn ở Ai-cập và Nê-bu-cát-nết-sa ở Ba-by-lôn (Sáng. 41:1-7; Đa-ni-ên 2:3, 31-35). Tuy nhiên trong cả hai trường hợp này sự giải thích giấc mơ thuộc về người của Đức Chúa Trời. Hầu hết những giấc mơ mặc khải này đều bao gồm lời nói của Đức Chúa Trời, nhưng với giấc mơ của Giô-sép chỉ bày tỏ về chính ông và các anh em của ông.

Các khải tượng phổ biến hơn nhiều như một phương tiện mặc khải, đặc biệt là đối với các nhà tiên tri. Trong một số trường hợp những gì đượcnhìn thấy được mô tả trong một cảnh tượng. Ê-xê-chi-ên đã nhìn thấy đền thờ Giê-ru-sa-lem trong một khải tượng (Ê-xê-chi-ên 8:3). Tuy nhiên những gì A-mốt nhìn thấy liên quan đến Israel (A-mốt 1:1) và cũng liên quan đến việc nghe hoặc nhận thức các lời. Các khải tượng thường được nối kết với các tiên tri nhiều đến nỗi họ được gọi là “những người tiên kiến” (ví dụ, 2 Sa-mu-ên 24:11; 1 Sử ký 9:22; 2 Sử ký 16:7; 29:30).

Giao tiếp trực tiếp

Đức Chúa Trời thường xuyên phán trực tiếp với con người. Các cụm từ này thường xuyên xuất hiện trong Kinh Thánh: Đức Chúa Trời phán, có lời của Đức Giê-hô-va đến với tôi. Trong một số trường hợp dường như đây là tiếng nói có thể nghe được bằng tai, như Phao-lô nghe một tiếng phán từ trên cao (Công vụ 9:4) và chàng trai trẻ tuổi Sa-mu-ên nghe tiếng phán của Chúa (1 Sa-mu-ên 3:4, 6, 8, 10-14). Trong những trường hợp khác, dường như là một tiếng nói từ bên trong hướng dẫn dân sự của Đức Chúa Trời giống như khi chúng ta giữ yên lặng trong khi cầu nguyện với Chúa và nghe tiếng Ngài phán. Khi một thiên sứ của Chúa ra lệnh cho Phi-líp đuổi theo hoạn quan Ê-thi-ô-pi (Công vụ 8:29), hay khi Đức Thánh Linh bảo Phi-e-rơ rằng có ba người đang tìm ông (Công vụ 10:19), hay khi hội thánh sai phái Phao-lô và Ba-na-ba đi truyền giáo (13:2). Những trường hợp này có thể là nghe được tiếng nói của Đức Chúa Trời từ bên trong. Loại tiết lộ này có thể là những gì Phao-lô nhận được từ Đấng Christ trong thời gian ông ở sa mạc A-ra-bi (Ga-la-ti 1:11-17).

Một trường hợp duy nhất Đức Chúa Trời nói chuyện trực tiếp với Môi-se được ghi trong Xuất Ê-díp-tô ký 33:11, “Đức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se, như một người nói chuyện cùng bạn hữu mình.” Khi Mi-ri-am và A-rôn đặt câu hỏi về uy quyền của Môi-se, Đức Chúa Trời phán rằng Ngài nói chuyện với họ xuyên qua các khải tượng và giấc mơ, nhưng với Môi-se thì khác. Đức Chúa Trời nói về Môi-se: “Tôi tớ Môi-se ta không có như vậy, người thật trung tín trong cả nhà ta. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ ràng, không lời đố, và người thấy hình Đức Giê-hô-va” (Dân số ký 12:7-8). Điều này bày tỏ sự thân mật trực tiếp giữa Đức Chúa Trời và Môi-se.

Các thiên sứ

Thỉnh thoảng Đức Chúa Trời dùng các thiên sứ để truyền đạt sự mặc khải của Ngài. Họ xuất hiện trong vai trò này, đặc biệt là khi Đức Chúa Trời khởi đầu một công việc mới.  Ví dụ Luật pháp được ban cho bởi Môi-se, nhưng qua trung gian là các thiên sứ. “các ngươi đã nhận luật pháp truyền bởi các thiên sứ, nhưng không giữ lấy” (Công vụ 7:53; Ga-la-ti 3:19). Một thiên sứ đã thông báo tin mừng về sự giáng sinh của Cứu Chúa (Lu-ca 2:10, 13). Một trong những trường hợp sinh động nhất là sự bày tỏ của thiên sứ với Đa-ni-ên. Trong hai tình huống Đức Chúa Trời trả lời sự cầu nguyện của Đa-ni-ên về Israel bằng cách gửi thông điệp thông qua các thiên sứ, một trong các thiên sứ đó là Gáp-ri-ên (Đa-ni-ên 9:2-21; 10:10-21). Trong khi các thiên sứ vượt trội hơn con người về nhiều mặt, thì họ vẫn chỉ là những sứ giả (người đưa tin) cho Lời của Đức Chúa Trời, không phải là tác giả của thông điệp. Sự giới hạn của thiên sứ về tri thức được sứ đồ Phi-e-rơ đề cập đến: “những người nhờ Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống, mà giảng Tin lành cho anh em; các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó” (1 Phi-e-rơ 1:12).

Các phép lạ

Khi Đức Chúa Trời truyền đạt lời Ngài trực tiếp cho con người, Ngài thường đưa ra bằng chứng về sự hiện diện của Ngài bằng cách thực hiện các phép lạ. Bởi một phép màu, chúng ta đang đề cập đến một hành động khác với những sự kiện thông thường. Thông thường Đức Chúa Trời vận hành vũ trụ của Ngài theo cái mà chúng ta gọi là “các quy luật tự nhiên,” mà Ngài đã thiết lập như một phần của tạo vật. Phép lạ xảy ra khi Đức Chúa Trời chọn hành động một cách phi thường với mục đích bày tỏ chính Ngài.

Ngôn ngữ Kinh Thánh cho các phép lạ cho thấy chức năng mặc khải của chúng. Nói về những phép lạ của Chúa Giê-su, Phi-e-rơ mô tả chúng là “việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ” (Công vụ 2:22). Đây không phải là ám chỉ đến ba loại hành vi khác nhau, mà là cùng một hành động được nhìn từ ba quan điểm. Thuật ngữ “việc quyền phép” xem hành động như một sự phô trương quyền lực. Từ “sự lạ” hàm ý những sự kiện gây ngạc nhiên cao độ. Và từ “dấu lạ” chỉ trực tiếp đến mục đích của chúng như những điều được mặc khải. Các dấu lạ trong Kinh Thánh giống như những con trỏ hướng sự chú ý của chúng ta đến một điều gì đó.

 

Theo những lời tiên tri trong Cựu Ước, Đấng Mê-si sẽ đến và làm phép lạ như những dấu hiệu chỉ ra  thần tánh của Ngài. Vì lý do này, người Do Thái liên tục hỏi Chúa Giê-su: “Thầy làm như vậy thì cho chúng tôi xem thấy phép lạ chi?” (Giăng 2:18; xem thêm Ma-thi-ơ 12:38; 16:1). Phép lạ chữa lành người bại liệt (Mác 2) minh họa ba khía cạnh này của một việc quyền phép. Rõ ràng, quyền năng của Đức Chúa Trời đã được thể hiện khi người đàn ông bại liệt nằm trên giường đứng dậy và bước đi (2:12). Hiệu quả của sự ngạc nhiên được thấy trong lời này, “Kẻ bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy đều lấy làm lạ, ngợi khen Đức Chúa Trời, mà rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy” (Mác 2:12). Nhưng điểm cuối cùng của phép lạ đã được Chúa Giê-su tuyên bố: “để các ngươi có thể biết rằng Con Người có thẩm quyền trên đất để tha tội” (2:10). Quyền hành này chỉ thuộc về Đức Chúa Trời; do đó phép lạ là một sự mặc khải về thần tính của Chúa Giê-su Christ.

Phép lạ liên quan đến sự mặc khải theo hai cách quan trọng. Đầu tiên, chúng chỉ ra thực tế rằng sự mặc khải đang xảy ra. Chúng khiến chúng ta ngồi dậy và chú ý rằng Chúa đang làm việc. Thứ hai, chúng tiết lộ điều gì đó về quyền năng Đức Chúa Trời và mục đích mà Ngài sử dụng quyền năng đó. Mặc dù trong một số trường hợp, khó có thể thấy gì hơn bằng chứng về quyền năng của Đức Chúa Trời đối với thế giới tự nhiên, như trong việc Chúa Giê-su biến nước thành rượu (Giăng 2). Hầu hết các phép lạ của Chúa Giê-su đều biểu lộ quyền năng của Đức Chúa Trời để chiến thắng tội lỗi và các tác động của nó.  Việc chữa lành người bệnh bại và phục hồi thị lực cho người mù chứng minh sự đắc thắng của Đức Chúa Trời trên đau khổ và tội lỗi. Trường hợp La-xa-rơ và những người khác đã chết sống lại đã thông báo lẽ thật rằng quyền lực của tội lỗi đã bị phá vỡ, và sự chết, kẻ thù cuối cùng của nhân loại, có thể bị đánh bại bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Sự phục sinh của Đấng Christ được miêu tả như là một minh chứng về quyền năng kỳ diệu siêu nhiên của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:19-20).

Trong khi phép lạ là một hình thức mặc khải, ý nghĩa đầy đủ của chúng chỉ được biết đến qua Kinh Thánh. Vì vậy, các phép lạ được coi là dấu hiệu chỉ ra chức vụ của Ngôi Lời. Như Phi-e-rơ đã viết, “Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy: Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét, tức là Người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ ở giữa các ngươi, để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi, như chính các ngươi đều biết. Người đó bị nộp theo ý định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó” (Công. 2:22-24). Các phép lạ “chứng thực” hoặc “công nhận” Con Người của Đấng Christ cho dân chúng. Họ đã chứng thực về Con Người của Ngài và do đó cũng là Lời của Ngài. Lời đó tuyên bố ý muốn và mục đích của Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô viết, “Các bằng cớ về chức sứ đồ tôi đã tỏ ra trong anh em bởi sự nhịn nhục mọi đàng, bởi các dấu lạ, các sự khác thường, và các phép lạ” (2 Côr. 12:12). Những “sự nhịn nhục mọi đàng, bởi các dấu lạ, các sự khác thường, và các phép lạ” này đã chứng thực Phao-lô là sứ đồ của Đấng Christ và đi tới khẳng định rằng sự dạy dỗ của ông đến từ Đức Chúa Trời.

Ngôi vị của Đấng Christ

Trước giả sách Hê-bơ-rơ tuyên bố rằng “trong những ngày cuối cùng này, Đức Chúa Trời đã phán cùng chúng ta qua Con Ngài” (Hêb. 1:2). Trong Lời này, sự mặc khải của Đức Chúa Trời đạt đến cực điểm. Nhiều phần trong lời của Đức Chúa Trời mà trước đây đã được tiết lộ qua nhiều cách chỉ là những mảnh nhỏ chỉ ra sự tái lâm của Ngài “trong Ngài đã giấu kín mọi sự quí báu về khôn ngoan thông sáng” (Cô-lô-se 2:3).

Trong sự Nhập thể, chúng ta có thêm kiến ​​thức về Đức Chúa Trời khi Ngài bày tỏ chính Ngài theo một cách khác biệt. Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể, tức là Đức Chúa Trời trong thân xác con người. Tiếp nhận kiến ​​thức về một Con Người là một điều, nhưng điều này không bao giờ so sánh được với việc gặp gỡ chính Người đó.

Chúa Giê-su Christ giới thiệu Cha thiên thượng cho chúng ta. Giăng tuyên bố, “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết” (Giăng 1:18). Điều này không nên hiểu đơn giản là Chúa Giê-su chỉ là một người dạy về lẽ thật thiêng liêng hơn tất cả những thầy dạy luật pháp trước đây. Ngài đã giãi bày Đức Chúa Trời theo nghĩa rằng ai nhìn Ngài là thấy Đức Chúa Trời. Ngài nói với Phi-líp, “Ai đã thấy Ta là thấy Cha” (14: 9). Ngài có thể nói điều này bởi vì “sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy (Đấng Christ) như có hình” (Cô-lô-se 2:9).

Sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ đã được ban cho qua sự dạy dỗ của Chúa Giê-su. Ngài được công nhận là Giáo sư từ Đức Chúa Trời đến (Giăng 3:2), nói những lời của Đức Chúa Trời mà trước đây chưa ai nói. Nhưng ngoài lời nói, Đức Chúa Trời còn phán qua Con Người và công việc của Chúa Giê-su, mà cao điểm là thập tự giá và sự phục sinh. Trong sự hy sinh của Chúa Giê-su vì tội lỗi của nhân loại, Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu thương vô hạn của Ngài, đồng thời cũng là sự thánh khiết và công bình của Ngài. Chúa Giê-su không chỉ đơn giản là trọng tâm lớn nhất của sự mặc khải; Ngài còn là chủ đề của mọi sự mặc khải. Kinh Thánh làm chứng cho Ngài (Giăng 5:39). Các tiên tri trước đó đã nói về Ngài, “Về sự cứu rỗi đó, các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, và đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em:  nghĩa là tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ và về sự vinh hiển sẽ theo sau” (1 Phi. 1:10-11; xem thêm Khải 19:10).

Một hình thức cuối cùng của sự mặc khải là Lời được viết ra. Phần lớn Kinh Thánh là bản ghi chép về sự mặc khải, được đưa ra dưới nhiều hình thức mà chúng ta đã biết. Các giấc mơ và khải tượng đã được ghi lại, và việc truyền đạt trực tiếp lời của Đức Chúa Trời cho các tiên tri đã được viết ra. Khi Đức Chúa Trời nói chuyện trực tiếp với con người, họ ý thức được sự kiểm soát của Ngài. Khi những giấc mơ và khải tượng xảy ra, các cá nhân về cơ bản là những người tiếp nhận thông điệp của Chúa một cách thụ động. Rõ ràng là khi Đức Chúa Trời viết Mười Điều Răn bằng ngón tay của Ngài trên bảng đá, Môi-se không thể làm gì khác hơn là mang chúng đến cho tuyển dân.

Mặt khác, trái ngược với những người ý thức được quyền uy áp đảo của Đức Chúa Trời trong việc ban sự mặc khải của Ngài cho họ, một số trước giả viết Kinh Thánh có thể không có ý thức như vậy. Tuy nhiên Thánh Linh của Đức Chúa Trời hoạt động bên trong và thông qua tính cách của họ để bày tỏ lẽ thật của Ngài. Tâm trí và cảm xúc của họ hoàn toàn tham gia trong tiến trình này khi họ ghi lại lẽ thật của Đức Chúa Trời.  Thánh Linh của Đức Chúa Trời điều khiển họ để những gì họ viết ra chính là những gì Đức Chúa Trời muốn truyền đạt. Chúng ta có thể nói rằng trong hình thức tôn kính này, Đức Chúa Trời và con người được kết hợp chặt chẽ.

Điều tự nhiên là sự mặc khải đó chủ yếu xảy ra vào thời Tân Ước khi Đức Chúa Trời bởi Thánh Linh của Ngài bắt đầu ngự trị bên trong các tín đồ.

Tất cả những hình thức mặc khải này cho thấy rằng có một sự tiến bộ cơ bản trong các loại mặc khải được sử dụng trong suốt chiều dài lịch sử. Tất cả những phương pháp này, ngoại trừ sự mặc khải thông qua Con Đức Chúa Trời, có thể được tóm gọn lại dưới ba hình thức — sự hiện ra của Đức Chúa Trời; một số kiểu truyền thông trực tiếp hoặc lời tiên tri; và sự thần cảm hay sự soi dẫn. Các hình thức mặc khải tiến từ cái bên ngoài đến bên trong, từ những sự khác biệt đến sự gần gũi thân mật. Điều này rõ ràng theo sau sự tiến triển của toàn bộ mối quan hệ của Đức Chúa Trời với loài người. Trong Vườn Địa Đàng, A-đam và Ê-va bị xa cách Đức Chúa Trời vì tội lỗi. Nhưng qua sự cứu chuộc trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời đưa các tín nhân đến gần Ngài và bởi Thánh Linh của Ngài. Ngài ngự trong lòng con người trong mối tương giao sâu đậm. Tuy nhiên, mặc dù có những khác biệt về hình thức và các mối quan hệ, Kinh Thánh không bao giờ phân biệt giá trị mặc khải của mỗi hình thức. Tất cả đều được Đức Chúa Trời bày tỏ như nhau.

Một số sự kiện về sự mặc khải đặc biệt có thể được ghi nhận. Đầu tiên, sự mặc khải đặc biệt bao gồm hành động và lời của Đức Chúa Trời. Trái ngược với nhiều học giả xem sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời chỉ ở trong “những hành động quyền năng” của Đức Chúa Trời. Các hình thức khác nhau mà Đức Chúa Trời dùng để giao tiếp với dân Ngài chứng tỏ Ngài đã sử dụng cả hành động và lời nói. Tất cả các hình thức được đề cập có thể được phân loại theo một hoặc cả hai tiêu chí này. Nếu không có sự giải thích của Đức Chúa Trời về các hành động của Ngài, chúng ta sẽ không hiểu được đầy đủ. Nhiều người đã chứng kiến ​​cuộc xuất hành ra khỏi Ai Cập, sự phu tù của Israel dưới ách cai trị của đế quốc Babylon, sự chết của Đấng Christ, hoặc ngôi mộ trống. Nhưng tất cả sự kiện không có ý nghĩa như nhau. Ví dụ chỉ có sự mặc khải của Đức Chúa Trời mới cho chúng ta biết rằng việc Đấng Christ bị đóng đinh là “vì tội lỗi của chúng ta.” Trừ khi Đức Chúa Trời tiết lộ ý nghĩa các hành động của Ngài, chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn về ý nghĩa đầy đủ của chúng.

Một sự bày tỏ qua lời nói cũng cần thiết cho một mối quan hệ cá nhân. Trong một tình huống giả định thì có thể một số người sẽ chọn điếc thay vì mù. Nhưng trên thực tế, người mù ít bị rối loạn cảm xúc hơn người điếc. Lý do liên quan đến tầm quan trọng của lời nói đối với mối quan hệ cá nhân được Bernard Ramm giải thích, “Các mối quan hệ cá nhân nồng thắm bị cuốn vào bởi những cuộc trò chuyện, và người nào khiếm thính thì không thể trải nghiệm nó. Thế giới không âm thanh còn bực bội hơn nhiều so với một thế giới không có thị giác.” Phim truyền hình là giải trí nhưng một bộ phim truyền hình bị cướp mất đi âm thanh thì cạn kiệt ý nghĩa. Trong cuộc sống cũng như trong phim truyền hình, từ ngữ chuyển tải những ý nghĩa; nó cần thiết cho mối quan hệ nồng ấm của tình bạn. Sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời được thiết kế cho mối tương giao cá nhân. Và điều này đòi hỏi những lời được nói ra để chúng ta có thể hiểu các hành động của Đức Chúa Trời và biết cách phản hồi phù hợp.

Thứ hai, sự mặc khải đặc biệt mang tính cá nhân và bằng lời nói. Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời là chủ đề của chương sau. Nhưng ở đây cần lưu ý đơn giản rằng việc chúng ta xem xét các hình thức mặc khải đặc biệt chứng tỏ rằng không có sự phân đôi giữa Đấng Christ với tư cách là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời và Lời phán của Đức Chúa Trời. Một số người có thể tập trung vào những lời trong Kinh Thánh mà không cần tương giao với Lời Hằng Sống là Chúa Giê-su mà Kinh Thánh nói đến. Một số người Do Thái vào thời Chúa Giê-su chăm chú nghiên cứu Kinh Thánh vì tin rằng nhờ đó nhận được sự sống. Nhưng Chúa Giê-su bảo họ: “Chính những lời Kinh Thánh này làm chứng về Ta; nhưng các ngươi không muốn đến cùng Ta, để được sự sống” (Giăng 5: 39-40). Thật không may, một số người “tin Kinh Thánh” biết nhiều về Kinh Thánh, nhưng họ không có mối quan hệ sống động với Đấng Christ.

Theo Kinh Thánh, không thể có sự phân cách thực sự giữa lời được viết ra và Ngôi Lời (Lời đã thành người). Trong giao tiếp với một người khác, lời nói của họ là cách chúng ta biết được suy nghĩ và cảm xúc của người đó. Theo nghĩa thực tế, lời nói của một người là sự mở rộng của cá nhân khi người đó tìm cách thu hẹp khoảng cách giữa mình và người khác. Vì vậy, Đức Chúa Trời hằng sống đã đến thế gian trong thân vị của Con Ngài để bày tỏ tấm lòng và ý muốn của Ngài cho nhân loại qua phương tiện ngôn ngữ.

Thứ ba, mặc khải đặc biệt chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh của mặc khải phổ quát. Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài trong công việc của tay Ngài và trong mối giao tiếp cá nhân. Trên thực tế, người nghệ sĩ, kiến ​​trúc sư hay chúng ta đều bày tỏ về bản thân trong những gì chúng ta làm. Bàn làm việc của một người có gọn gàng hay lộn xộn hay không cũng tiết lộ điều gì đó về cá nhân đó. Một họa sĩ cũng giao tiếp bằng lời với gia đình và bạn bè của mình, và những lời đó không chỉ đơn giản là nằm trong các bức tranh nói thay cho anh. Vì vậy, Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài trong sự tráng lệ và tuyệt vời của các công trình tạo dựng và cũng trong sự giao tiếp trực tiếp và cá nhân với con người.

Đây là trường hợp của A-đam và Ê-va trong vườn địa đàng. Như Warfield giải thích, “Ấn tượng mạnh mẽ mà Kinh Thánh truyền đạt cho chúng ta là tổ phụ con người ở với Chúa trong vườn Ê-đen, và vui vẻ trong mối tương giao với Ngài tức thì, chứ không chỉ đơn thuần là suy ngẫm trong sự hiệp thông…con người có cái nhìn trực tiếp về Đức Chúa Trời và được nói chuyện trực tiếp với Ngài.”

Sự xâm nhập của tội lỗi đem đến sự xa cách thuộc linh khỏi Đức Chúa Trời và cùng với đó là sự mất mát tai hại về mối giao tiếp cá nhân. Giống như A-đam, tội nhân cảm thấy không thoải mái trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Sự thánh khiết của Ngài đã khiến dân Y-sơ-ra-ên cầu xin Môi-se nói chuyện với Đức Chúa Trời thay cho họ. Nhưng trong tình yêu thương, Đức Chúa Trời đã tìm kiếm những con người tội lỗi, Ngài ban ân điển đưa họ trở lại mối tương giao đã được thiết kế. Lịch sử Kinh Thánh tiết lộ rằng sự giao tiếp này đã phát triển và sẽ phát triển cho đến khi một ngày nào đó các tín nhân sẽ được về nhà sống trong sự hiện diện của Ngài.

Về bản chất sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời và sự giao tiếp cá nhân thuộc về nhau. Chúa phát ngôn lời của Ngài và hành động trong lịch sử để khôi phục mối quan hệ của chúng ta với Ngài. Nhưng nếu không có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa Toàn Năng và Đấng cai trị vạn vật, Đấng công bình và tốt lành, thì những bài học trên đây không thể hiểu được hoặc đáng tin cậy. Sẽ khó chấp nhận Ngài là Đấng Cứu Chuộc nếu chúng ta không biết Ngài cũng là Đấng Tạo Hóa.

KẾT LUẬN

Nhiều người sống như thể không có Đức Chúa Trời, và một số người loại trừ Chúa theo quan điểm và học thuyết của họ. Nhưng các cuộc khảo sát hiện đại cũng như lịch sử nhân loại đã chứng minh sự thật trong Kinh Thánh rằng con người công nhận sự thực hữu của Đức Chúa Trời (mặc dù không phải lúc nào họ cũng thừa nhận điều đó). Ngài đã tạo ra chúng ta để biết Ngài, và do đó Ngài làm cho chính Ngài được biết đến. Sự mặc khải của Ngài đáp ứng đầy đủ các câu hỏi của chúng ta về ý nghĩa của sự tồn tại con người. Qua thế giới tự nhiên, Ngài bày tỏ sự tồn tại vĩnh cửu và quyền năng toàn năng của Ngài. Qua hành động và lời nói  của Ngài, Ngài truyền đạt thuộc tính của Ngài như một Đức Chúa Trời của tình yêu thương. Tất cả những gì Ngài bày tỏ chính Ngài để chúng ta có thể biết Ngài, Đấng được biết là Đấng tự hữu và hằng hữu.

admin

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *